(VATFI.org.vn) – Phải chăng nhờ một cuộc hôn nhân mà ngày nay chúng ta mới có chai nước mắm đặt trên kệ bếp và hành trình của nước mắm đến với dải đất hình chữ S này trải dài 2.000 năm từ La Mã đến Phan Thiết? Và có lẽ duy nhất ở Việt Nam có một bảo tàng về gia vị độc đáo như thế này.
Nước mắm giữ vai trò gia vị quan trọng và xuất hiện từ năm này qua tháng nọ trong căn bếp của các gia đình, được xem là ‘linh hồn’ của món ăn Việt. Chỉ cần hôm nào nấu ăn mà quên cho nước mắm vào thì khi thưởng thức kiểu gì cũng sẽ ‘hình như thiếu thiếu cái gì đó’. Hay là ăn cơm tấm mà không biết ăn nước mắm thì xem như không biết thưởng thức ‘tinh hoa’ ẩm thực.
Nước mắm thân quen đến thế nhưng ít ai biết lịch sử của nước mắm đã có từ hàng nghìn năm.
Nước mắm ‘đi lòng vòng’ từ La Mã đến Chămpa rồi mới về Phan Thiết
Cách đây khá lâu, người ta phát hiện trên một con tàu bị đắm ở vùng biển Hy Lạp những bình gốm có niên đại vào thời kỳ La Mã 2.000 nghìn năm trước, bên trong đựng một loại gia vị tên là garum. Về sau, người ta còn khai quật được các xưởng sản xuất garum cổ tại Ý, với quy mô lớn nhất là ở Pompeii.
Từ những mẫu garum cổ còn sót lại, các nhà khoa học đã phân tích được trong đó có thành phần axit amin, chất mặn ngọt của garum giống như của nước mắm hiện tại. Người La Mã lên men hỗn hợp thịt các loại cá ướp với muối và thảo dược, sau đó ép ra nước cốt garum. Bình garum đương thời có giá xấp xỉ với 500 USD so với thời hiện tại (?).

Theo con đường tơ lụa trên biển, garum trở thành món hàng hóa mà đế chế La Mã dùng để trao đổi, mua bán với các nước khác. Xuất phát từ cực tây thành Roma, dọc theo bờ biển Nam Ấn Độ vào Thái Bình Dương đến vương quốc Chămpa.
Theo wikipedia, khi chưa có người Việt định cư, người Chăm gọi vùng đất này là ‘Hamu Lithít’ – ‘Hamu’ là xóm ruộng bằng, ‘Lithít’ là ở gần biển. Khi bắt đầu có người Việt định cư, âm cuối ‘Lithit’ lại được gắn liền với âm ‘Phan’ tách từ phiên âm của tên hai vùng Phan Rang, Phan Rí mà thành ra Phan Tiết (tên gọi ngày xưa) và sau này người ta gọi chuẩn với cái tên là Phan Thiết.
Người Việt học được cách làm nước mắm nhờ một cuộc hôn nhân
Không phải tự nhiên mà người Việt học được cách làm nước mắm từ người Chămpa ở vùng đất Phan Thiết. Mối quan hệ hảo hữu của hai quốc gia Đại Việt và Chămpa thời đó được thiết lập từ cuộc hôn nhân giữa công nữ Nguyễn Phúc Ngọc Khoa và vua Po Rome.
Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên nhìn thấy vua Po Rome là đấng minh quân lại giỏi tài thao lược, ngoại giao và chú trọng mở mang kinh tế. Con gái của người là công nữ Ngọc Khoa lại sở hữu nhan sắc tuyệt trần khiến vua Po Rome phải lòng chỉ trong một lần nàng đi cùng đoàn thương nhân sang Chiêm Thành mua bán hàng hóa.
Năm 1631, Chúa Nguyễn Phúc Nguyên quyết định gả công nữ Ngọc Khoa cho vua Po Rome để hòa hoãn với Chămpa. Từ đó, những bước giao thoa kinh tế, văn hóa và ẩm thực giữa hai quốc gia được hình thành. Nhờ đó, người Việt học hỏi được rất nhiều điều thú vị trong văn hóa Chămpa, nổi bật nhất là cách ủ chượp cá muối để tạo ra nước mắm. Nghề làm nước mắm ở Việt Nam xuất hiện đầu tiên ở vùng Phan Thiết và phát triển mạnh đến ngày nay.
Từ ‘chượp’ cũng có nguồn gốc nguyên thủy từ tiếng Chăm là ‘chsot’.
Ngư dân Phan Thiết đưa nước mắm Việt lên tầm cao mới
Sở hữu nguồn tài nguyên biển dồi dào, người Đại Việt đã sản xuất ra nhiều loại mắm khô. Khi garum xuất hiện ở dạng lỏng, ngư dân Việt mới gọi là “mắm nước”, sau này đọc cho suông là nước mắm.
Từ sự ưu đãi của thiên nhiên có nguồn cá cơm ngon và muối tinh khiết, người Phan Thiết kế thừa phương pháp ủ chượp từ người Chăm, đưa nước mắm Việt lên tầm cao mới. Họ học tập kỹ nghệ ủ rượu vang trong thùng gỗ của người châu Âu để thay đổi phương thức và quy mô sản xuất. Những thùng lều để ủ chượp nước mắm ra đời ở thời điểm đó, chất liệu chủ yếu bằng các loại gỗ mềm, niềng bằng dây mây rừng để siết lại cho thật khít.
Và phải kể đến sự góp công lẫn trí tuệ của các hàm hộ làm nước mắm tại nơi đây đã gây dựng Phan Thiết trở thành cái nôi của nghề sản xuất nước mắm thời bấy giờ.
Tiêu biểu là ông tổ nghề nước mắm Trần Gia Hòa, được vua ban chức quan bát phẩm nhờ có công thương mại hóa nghề sản xuất nước mắm tĩn Phan Thiết và sở hữu nhà thùng quy mô lớn đầu tiên tại đây. Vợ chồng ông Trần Gia Hòa chọn nghề muối cá để sống. Sau khi có vài chục đồng vốn cộng thêm ba chục đồng vay mượn, vợ chồng ông muối ra thùng cá đầu tiên và dần xây dựng được lều cá tại Phú Trinh.
Tuy nhiên, sau khi vợ đầu của ông qua đời, ông đã tái hôn vào năm 38 tuổi, tiếp tục từ lều mắm đầu tiên ven sông Cà Ty phát triển thành một khu nhà lều chế biến nước mắm có hàng trăm thùng chượp, thùng trổ và hàng trăm lao động trong nhiều năm.
Ông tổ Trần Gia Hòa sáng tạo ra phương pháp rút nước mắm từ thùng lều gỗ đưa vào tĩn gốm, dán nhãn vuông chở bằng ghe bầu đi bán khắp nơi từ miền Bắc, miền Trung và khắp lục tỉnh Nam Kì. Chính nhờ sự mở rộng kinh doanh của ông Trần Gia Hòa mà nghề làm nước mắm tĩn trở nên phổ biến và có sức ảnh hưởng lớn thời bấy giờ. Phan Thiết cũng từ đó trở thành thủ phủ nước mắm Việt Nam.
Người xưa hay nhắc câu “Nhất Xì, Nhì Đậu” để chỉ đôi nam nữ giàu có nhất Phan Thiết thời đó. Theo đó, Xì trong Bát Xì – là tên “cúng cơm” của ông Hòa. Ngày nay, tại Phan Thiết vẫn còn cây cầu tên Bát Xì do chính ông bỏ tiền xây dựng.
Ngoài ra, những hàm hộ khác cũng góp công phát triển Phan Thiết thành cái nôi của nghề nước mắm. Một hàm hộ đã dùng tiền kinh doanh nước mắm làm con đường nối từ Phan Thiết ra Mũi Né. Hành động nghĩa hiệp này được vua Nguyễn ban tặng cho bốn chữ vàng “Hào nghĩa khả gia”.
Bảo tàng nước mắm duy nhất ở Việt Nam
Ngày nay, tại thành phố Phan Thiết, có một bảo tàng nước mắm ra đời mang tên Làng Chài Xưa để phục dựng và lưu trữ giá trị văn hóa làng nghề làm nước mắm tại Việt Nam.
Bảo tàng được thiết kế hiện đại nhưng vẫn giữ được những nét mộc mạc, hoài niệm. Sở hữu diện tích 1.600 mét vuông, chia thành 14 không gian nhỏ với từng chủ đề riêng biệt, tái hiện lại 300 năm làng chài Phan Thiết xưa từ thời Chămpa và những năm thập niên 40-60.
Quý khách đến bảo tàng sẽ được xem thước phim ngắn giới thiệu về hành trình nước mắm Phan Thiết tại rạp phim tài liệu. Tiếp theo là không gian Chămpa với bức tượng Kut độc đáo được khai quật tại một đền tháp từ thế kỉ 15. Đây là biểu tượng rất linh thiêng của người Chăm. Theo tục lệ xưa, khi vua hay quan qua đời sẽ được làm lễ nhập hồn vào tượng Kut, rồi mới qua thế giới bên kia.
Ngoài những di vật cổ, bảo tàng còn đang trưng bày bản gốc 2 tấm sắc phong của vua triều Nguyễn ban cho làng biển Bình Thuận. Tấm sắc phong đầu tiên là của vua Đồng Khánh ban cho người dân ở Đàng Ngoài đã vào khai hoang, lập ấp tại làng chài Hòa An, Phan Thiết. Tấm còn lại do vua Khải Định ban cho thần Ông Nam Hải (cá voi) vì có công cứu giúp nhiều ngư dân làng chài gặp nạn trên biển.
Ngoài ra, nơi đây còn phục dựng lại khu nhà hàm hộ (hộ gia đình sản xuất nước mắm qui mô lớn) và mô hình que thùng nước mắm. Bên cạnh đó, nơi đây cũng lưu trữ chân dung của những hàm hộ nước mắm đầu tiên và có công lớn xây dựng cái nôi nước mắm Phan Thiết. Những nhãn hiệu các loại nước mắm từ ngày xưa cũng được lưu trữ để nhắc lại cho hậu thế giá trị vàng son một thời của nghề làm nước mắm truyền thống ở Phan Thiết.
Nguồn: afamily.vn































